THPT Chuy�n Luong Van T?y
Đang tải dữ liệu...

Trang chủGiới thiệuTin tứcThông báoGương sáng học đườngThư viện trườngThư viện tài liệuCẩm nang tuyển sinhTuyển sinh
   Toán học    |    Tin học    |    Vật lý    |    Hóa học    |    Sinh học    |    Ngữ văn    |    Ngoại ngữ    |    Lịch sử    |    Địa lý    |    Upload   
Ngữ văn

Tuần 29: THUẬT HOÀI CỦA PHẠM NGŨ LÃO VÀ TƯ THẾ VĂN HÓA CỦA THỜI ĐẠI ĐÔNG Á

BÙI NGỌC MINH

1.Lịch sử văn học cổ kim đông tây thấy có qui luật này: có những người suốt đời nhai văn, nhá chữ, lao tâm khổ tứ tìm câu hay, từ lạ, chữ khéo, ý tứ tân kì... mà tác phẩm của họ vẫn không được lưu truyền rộng rãi, thậm chí người đời không biết đến; lại có những người cả đời không bao giờ nhận mình là văn nhân thi sĩ, chỉ làm một vài bài, nhưng lạ thay chúng lại có sức sống lâu bền. Vì sao vậy ? Bởi vì: người đọc chân chính xưa nay bao giờ cũng muốn tìm thấy trong văn chương lời giải đáp cho những vấn đề cốt thiết với cuộc đời của họ, giúp họ sống nhân đạo, nhân bản, nhân văn hơn Văn chương phải qua những điều của một thời mà nói được những điều của mọi thời. Văn chương không phải là thứ để tôn tụng tung hô những giá trị ảo, không phải là thứ viết ra để trả lời những câu hỏi đã có đáp án trước, không phải là phương tiện để người làm ra nó kiếm danh thu lợi, không phải là thứ để những người tự vỗ ngực là văn nhân bưng tai bịt mắt trước những điều nhức nhối của đồng loại của thời cuộc...nhân loại chỉ cứu vớt những tác phẩm nào cứu vớt nhân loại. Thuật hoài (Tỏ lòng) của Quan nội hầu Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) là một thi phẩm xứng đáng được liệt vào hàng những danh tác lớn trong lịch sử văn học nước nhà, bởi nó thể hiện một bản lĩnh, một tư thế văn hóa cao đẹp của thời Trần, thời đại của hào khí Đông A. Và Phạm Ngũ Lão có một vị trí vững chãi, quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc, tuy sáng tác của ông đến nay chỉ còn hai bài thơ chữ Hán: Tỏ lòng và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương.

2.Thi phẩm Thuật hoài có phiên âm Hán – Việt như sau:

Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

Dịch nghĩa:

Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,
Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng át sao Ngưu.
Thân Nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh,
Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.

Dịch thơ:

Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh át sao Ngưu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu. (1)

Bài thơ được tuyển chọn chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông (lớp 10, trong sách giáo khoa Ngữ văn tập một của cả hai bộ sách cơ bản và nâng cao). Quả thật là những người làm chương trình và sách giáo khoa có cặp mắt xanh. Tuy nhiên, người viết bài này cảm thấy những bình giá về bài thơ của cả hai bộ sách, kể cả sách giáo viên đúng nhưng chưa đủ vì chỉ chú ý đến con người hiên ngang bất khuất, tư thế vô úy ở hai câu đầu, mà chưa chú ý đúng mức đến con người với tư thế tri úy, cúi đầu ở hai câu cuối. Trong phần kết quả cần đạt, sách Ngữ văn tập một(bộ cơ bản) viết:

Cảm nhận được vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao: vẻ đẹp của thời đại với sức mạnh và khí thế hào hùng.

Thấy được nghệ thuật của bài thơ: ngắn gọn, đạt tới độ xúc tích cao.

Bồi dưỡng nhân cách sống có lí tưởng, có ý chí, quyết tâm thực hiện lí tưởng.

Ở phần ghi nhớ viết: Tỏ lòng là bài thơ Đường luật ngắn gọn, đạt tới độ súc tích cao, khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại. Phần hướng dẫn học bài có câu hỏi 4 như sau: Phân tích ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong câu thơ cuối. (2)

Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập một, bộ nâng cao viết trong phần kết quả cần đạt:

Hiểu được lí tưởng cao cả và khí phách anh hùng của tác giả - một vị tướng giỏi đời Trần.

Thấy được những hình ảnh có sức diễn đạt mạnh mẽ của bài thơ.

Phần hướng dẫn học bài cũng có câu hỏi 4 như sau: Hai câu thơ cuối nói lên lí tưởng, khát vọng gì của tác giả? Vũ hầu là ai? “Thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” ở đây có nghĩa lí gì? (3). Vế thứ hai (Vũ hầu là ai?), thiết nghĩ không cần vì ngay ở chú thích (2) ngay dưới trang đó ( trang 154) đã có đáp án sẵn.

Thông thường một bài tứ tuyệt được chia theo kết cấu bốn phần (đề, thực, luận, kết), hoặc chia thành hai phần mỗi phần gồm hai câu. Căn cứ vào tình, ý, cảnh của thi phẩm này, ta dễ nhận thấy tự nó có thể chia làm hai phần. Hai câu đầu là tư thế vô úy (không sợ, theo ngôn ngữ nhà Phật) cũng có thể nói là tư thế ngẩng đầu hiên ngang bất khuất; hai câu cuối là tư thế tri úy (biết sợ) – tư thế cúi đầu. Vô úy là cách hành sử của những thiền sư, những cao tăng đã đốn ngộ được lẽ huyền diệu vô biên của Phật pháp. Còn cái vô úy và tri úy trong Thuật hoài phải chăng cũng là sự đốn ngộ được đạo lí, đạo đức yêu nước thương nòi của danh tướng họ Phạm khi đất nước đứng trước nguy cơ bị giặc ngoại xâm ? Hai tư thế trữ tình này hoàn chỉnh chân dung tinh thần tuyệt đẹp của nhân cách mang hào khí, hùng khí Đông A, âm dương, cương nhu hòa hợp tuyệt vời. Ở một đất nước từng chịu ách đô hộ ngàn năm của kẻ thù phương Bắc, và ngay trước đó dưới các triều đại phong kiến tập quyền tự chủ đầu tiên là Tiền Lê và Lí, ông cha ta cũng đã phải đương đầu với sự xâm lược của nhà Tống. Thái độ hiên ngang bất khuất, không sợ kẻ thù xâm lược hùng mạnh trong hai câu đầu của bài thơ là có thể dễ dàng lí giải. Đó là sự kế thừa truyền thống yêu nước chống xâm lược lâu đời của lịch sử dân tộc. Tư thế nhân vật trữ tình khổng lồ về tầm vóc, mang chiều kích vũ trụ quen thuộc trong cách thể hiện con người của văn chương trung đại với thi pháp và bút pháp đặc trưng. (Hữu thì trực thượng Cô Phong Đỉnh -Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư- Ngôn hoài (Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng, Một tiếng kêu vang lạnh cả trời - Không Lộ thiền sư. Thế sự du du nại lão hà ? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.-Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vàn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.(Việc đời dằng dặc mà ta đã già, biết làm thế nào ? Trời đất mênh mông đắm trong cuộc rượu hát ca. Khi gặp thời, người làm nghề hàng thịt, kẻ câu cá cũng dễ thành công, Lúc lỡ vận, bậc anh hùng đành phải nuốt hận nhiều. Giúp chúa, những muốn xoay trục đất lại, Rửa vũ khí không có lối kéo tuột sông Ngân xuống. Thù nước chưa trả được mà mái tóc đã bạc sớm, Bao phen mang gươm báu mài dưới bóng trăng)- Cảm hoài- Đặng Dung (? – 1414)... Cố nhiên tư thế trữ tình của ba vị trong ba bài thơ cũng có những nét khác nhau. Ở Ngôn hoài là cốt cách của một thiền sư đã đắc đạo đang tâm truyền cho vị thị giả trước khi tịch diệt; ở Cảm hoài là cốt cách của một anh hùng hào kiệt khi mạt vận; còn ở Thuật hoài thì đích thị là cốt cách của một trang nam nhi, một đại trượng phu mang hào khí hùng khí Đông A, dấu ấn của thời đại ba lần chiến thắng kẻ thù xâm lược Mông Nguyên, thế lực xâm lược hùng mạnh nhất thời đại, từng tung vó ngựa hung tàn khắp Á - Âu:

Tải bản gốc tại: Đây

Số lượt đọc:  152  -  Cập nhật lần cuối:  16/03/2015 09:26:09 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng:




Liên kết Website








Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: 1.782.260
Tổng số thành viên: 8
Số người trực tuyến: 20